Sunday, March 23, 2008

Lao động Việt Nam tại Malaysia (phần 2)


Phần 2: Cuộc gặp gỡ sau nhiều năm xa cách


Thành phố Taping nơi đây rất khác với nơi tôi sống và học tập. Đây là một thành phố miền quê, có gì đó bẩn thỉu, nhà cửa rất cũ kĩ và nát. Những đống rác trên đường vẫn còn vất vưởng, không ai dọn dẹp. Khá nhiều xe máy và những chiếc ô tô phế thải vẫn còn được sử dụng. Tôi nói chuyện với một số người dân, họ đa phần không biết nói tiếng Anh, hoặc nói được rất ít. Những chiếc áo, khăn của người đạo hồi cũng không cầu kì hay nhiều trang trí như mọi người ở nơi tôi ở, và đương nhiên, do cuộc sống vất vả, nước da người dân ở đây đen hơn, thậm chí với cả người Ấn.
Đang ngồi uống nước thì chú anh Quốc đến, đi từ phía trước mặt tôi, sau lưng anh Quốc. Khá dễ dàng nhận ra đó là một người Việt Nam, bởi cách ăn mặc, dáng đi và theo cảm tính. Da chú sạm đen, chú mặc chiếc quần ngố, chiếc áo ngả màu và đi đôi dép lê. Đi theo sau chú là một người phụ nữ, sau này chú giới thiệu là bạn gái.
Khỏi phải nói anh Quốc và chú mừng thế nào khi hai người sau bao năm mới gặp mặt nhau, nghe nói chuyện, hình như đã 6 hay 7 năm gì đấy. Đặc biệt ở chỗ, anh Quốc là người cháu mà chú yêu quý nhất, hai người từng đi lăn lộn khắp nơi trong thành phố để bán những gánh cháo, phở. Nghe hai người nói chuyện, tôi nhớ đến khoảng thời gian còn nhỏ của tôi. Tôi cũng như anh Quốc, cuộc sống ở gia đình không bao giờ khó khăn để bố mẹ đưa con cái đi làm. Nhưng ở cái tuổi 12, 13, tôi cũng hay đi mò cua, bắt ốc với đám trẻ ở quê rồi đem đi bán, cùng mấy thằng bạn thồ những đống cát mà cả buổi chỉ có 10 nghìn để ngồi uống nước với nhau. Cũng nhiều lần bố mẹ nói tôi, nhưng tôi bỏ ngoài tai. Và giờ khi lắng nghe hai chú cháu anh Quốc nói chuyện, tôi nhớ lại quãng kỷ niệm đẹp đó, thật đẹp và vui.
Rồi chúng tôi rời quán nước, đi về nhà của chú.
Trời tối đêm, ở khu này không có nhiều ánh điện nên tôi chỉ thấy man mác qua âm thanh và mùi, nó dơ, bẩn, hơi ẩm ướt. Có thể nói là nó giống với những khu chung cư cũ nát ở Hà Nội. Tôi khá bất ngờ vì điều này. Chính phủ Malaysia rất chịu khó bỏ ra nhiều khoản tiền để xây dựng nhà cửa. Có rất nhiều khu nhà cửa ở chỗ tôi ở được xây lên với hàng vạn hecta mà còn không có ai, vậy mà ở đây sao vẫn còn tồn tại khu tập thể như thế này.


(Khu chung cư chú ở. Ảnh: NTLam)


Men theo chiếc cầu thang không có tay vịn, cuối cùng tôi đến được tầng 3, ở đoạn giữa dãy nhà là nhà chú. Chung quanh rất nhiều nhà bỏ không và những vũng nước còn đọng lại trên dãy do những cơn mưa chiều vội vã. Thi thoảng có tiếng lách cách phát ra từ đâu đó. Đang cố gắng quan sát xung quanh, chú dục tôi “vào nhanh đi, khu này phức tạp đấy”. Tôi vội vã tháo giày vào nhà.
Ngôi nhà chú ở khoảng 50 mét vuông, có 2 phòng ngủ, 1 nhà bếp nhỏ ngoài lan can và 1 phòng vệ sinh. Chú sống một mình ở đây nên đồ đạc không có nhiều – có một cái tủ lạnh, một cái tivi đời cũ, đầu đĩa – chú kể mua lại chỉ 20RM, 1 phòng ngủ không có gì bên trong, một phòng có chiếc giường và vài cái móc quần áo. Cả nhà chỉ có 1 chiếc quạt máy, chú đã nhường chúng tôi dùng nó trong suốt 3 hôm ở cái khu ẩm ướt và nóng bức này.



Nó khác hoàn toàn với bên ngoài, nhà chú rất sạch sẽ và gọn gàng. Chỉ có những bức tường vàng, dính đầy những nét gạch và chữ viết vội vã, những tấm băng dính của ghi chú, những tờ giấy có những bảng chữ tiếng Tàu, tôi không hiểu. Tôi thấy thật thoải mái và nhẹ nhàng khi bước vào nhà. Tôi sống một mình ở nhà, do học hành cũng như bài tập liên quan đến vẽ, tôi ít khi thu dọn phòng, chắc độ 1 tuần hay 10 ngày gì đó tôi mới lau dọn. Vẫn thường có suy nghĩ về những thứ hôi hám, bẩn thỉu xen lẫn sự bừa bộn của hàng chục con người trong những căn phòng chục mét vuông. Tôi khá bất ngờ vì điều này.
Chú nhường cho chúng tôi căn phòng ngủ của chú, có một chiếc giường và giục chúng tôi tắm rửa và ăn cơm rồi đi nghỉ sớm. Tôi rất mệt lúc đó. Cả một ngày lăn lộn với cái nắng ở Ipoh. Sau khi trút bỏ hàng chục ký lô trên người xuống tôi uể oải bước ra định đi tắm.
Đang ngồi ở góc nhà, chú hút một hơi thuốc dài rồi khẽ gạt xuống ống bơ. Tôi đi ra và ngồi xuống cạnh chú, châm một điếu thuốc và bắt đầu hỏi thăm. Chú mời tôi uống trà, và dục cô bạn gái đi hâm lại thức ăn.
Chú hỏi thăm qua về tôi. Cũng không có gì đáng nói nhiều, trượt đại học, gia đình tạo điều kiện cho tôi sang Malaysia. Ban đầu tôi cũng bỡ ngỡ về đất nước này nhưng dần dà, cũng quen được hết!
Chú kể căn nhà của chú chỉ là 120RM/ 1 tháng! Nó còn rẻ hơn cả ở Việt Nam nữa. Tất nhiên tôi vội vã so sánh với căn nhà tôi đang sinh sống, khoảng 120m2, có phòng bếp, phòng khách và 3 phòng ngủ, 2 phòng vệ sinh. Tôi và 2 người nước ngoài nữa thuê 2 phòng riêng để ở, hầu hết chúng tôi không bao giờ đả động gì đến phòng bếp hay phòng khách, chắc có vài hôm bị cắt điện, tôi và cậu bạn Banglades ra ngồi ghế Sofa, hút thuốc, nói chuyện với nhau. Chúng tôi phải trả 1300RM cho một căn nhà như thế.
Cô bạn gái chú pha xong 2 tách cà phê mời tôi và anh Quốc uống. Chú mời cà phê và nhìn anh Quốc nói:
“Cũng chẳng giấu gì các cháu, đây là bạn gái của chú. Cô và chú làm bạn với nhau được hơn ba năm rồi. Thằng Bờm (chú vẫn gọi anh Quốc là Bờm) biết, chú cũng đã có vợ, con ở Việt Nam. Nhưng giữa đất nước Mã Lai này, nếu như chú không có một người bạn tri kỷ, tâm tình, chắc có lẽ chú chết mất. Nhiều khi ốm đau, bệnh hoạn… Và cũng nói để hai thằng chúng mày hiểu, ở bên này, ai cũng có đôi có lứa hết, mặc dù hoàn cảnh của họ ở Việt Nam đã có nơi có chốn hết rồi. Mai tao dẫn chúng mày đi xuống nơi cô làm để chúng mày thấy.”

Lao động Việt Nam tại Malaysia (Phần 1)



Phần 1: Chặng đường xuống Taping






(Góc nhìn từ một bến chờ xe Búyt ở Taping. Ảnh: NTLam)


Sau một buổi chiều vật lộn với cái nắng ở lâu đài cổ Kellie's Castle, tôi và anh Quốc bắt đầu trở lại trung tâm Ipoh và đi tìm những sự thật về “thiên đường mù” tại Taping, nơi tập trung khá nhiều công nhân Việt Nam tại Malaysia.
Sang đây gần 2 năm nhưng tôi ít khi quan tâm đến những vấn đề lao động tại Malaysia. Tôi thi thoảng có gặp một vài đám lao động Việt Nam ở đây, nhưng không hỏi thăm gì cả. Tôi thấy họ tồn tại cũng như tôi ở đây, không kiếm được một nơi thích hợp ở Việt Nam nên đã phải sang Malaysia, học tập hay làm việc. Đôi khi tôi đọc báo, gia đỉnh cũng như bạn bè hay gửi cho tôi về những mẩu tin về người Việt Nam ở Malaysia, đa số những bài viết đó viết về lao động Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ là những rắc rối của họ. Tôi đọc lướt qua mỗi lần như vậy.
Bạn bè tôi ở Malaysia khá nhiều. Họ kể nhiều về lao động Việt Nam ở đây. Uống rượu thì những đám này mang men từ tận bên Việt Nam sang. Họ nhậu nhẹt rất nhiều, đa số là dân miền tây. Ăn bắt các loài động vật “lạ” ở Malaysia – những con vật mà nước đạo hồi không sát sinh (thậm chí khu tôi ở, quạ bay mỗi lần gần trăm con nhưng cũng không ai giết hay bắt chúng đi). Có một lần giáo viên của tôi kể, bà sống ở thành phố Melaka, trong vòng 1 tuần bà xuống bang Selangor dạy, bà trở về và rất ngạc nhiên khi thấy lũ chó hoang biến mất hết. Thì ra là đám lao động Việt Nam ở khu đó đã thịt hết! Tôi im lặng.
Chỉ có một lần duy nhất tôi nói chuyện với một người lao động Việt Nam tại Malaysia là ở trên máy bay khi về nước chơi. Do ngồi cùng nên chúng tôi trò truyện, hỏi han về khu ở của nhau một vài câu, tôi chỉ nhớ câu cuối anh nói “khổ lắm, anh làm cả năm chỉ đủ tiền vé bay về thôi…”
Tôi dần tò mò hơn về cuộc sống lao động Việt Nam tại Malaysia khi mà gần đây có khá nhiều tin đưa về công nhân Việt Nam tại Malaysia. Nhưng tất cả chỉ là chung chung và mơ hồ. Nó kích thích sự tò mò, mạo hiểm của những người trẻ tuổi như tôi. Tôi quyết định đi chuyến đi này để tìm hiểu thêm về điều đó.
Từ Ipoh, chuyến xe búyt cuối cùng về Taping đã hết,hai thằng đành vẫy Taxi. 2 người lái xe từ chối, 1 người đòi giá quá cao. Đến người thứ 4, anh ta chấp nhận với giá là 80RM. Lên xe được 5 phút, người lái taxi quay sang hỏi chúng tôi có phải Việt Nam không? – tôi vui vẻ trả lời và hỏi lại, how do you know? (sao mày biết) – … im lặng, 10 phút sau, người lái xe đó bảo chúng tôi đưa trước 20RM để đổ xăng, tôi đưa 50RM. Tuy nhiên, cả dọc đường, chúng tôi không thấy người lái xe đó dừng lại để đổ xăng.
Chúng tôi dừng lại ở bến xe Taping lúc 11h đêm. Người lái taxi đó không biết địa hình ở Taping nên thả chúng tôi ở đấy. Chúng tôi vui vẻ chấp nhận và nhìn quanh khu phố này.
Đập vào mắt tôi đầu tiên là 3 người ăn xin nghèo, ngủ ở các ghế chờ ở bến xe, họ cũng không đoái hoài gì đến 2 thằng đang vật lộn với đống balô, một người lướt mắt nhanh qua chúng tôi, lại vội vã buộc băng kín chân.

(Bến xe Taping, ảnh chụp vào ngày cuối khi rơi Taping. Ảnh: NTLam)

Chỉ đi dạo quanh bến xe búyt 5 phút, chúng tôi đã nhìn thấy 3 chiếc xe Polis chạy ngang qua. Điều này khá lạ lẫm. Khu nơi tôi ở, họa chăng 1 tháng tôi mới thấy cảnh sát 1 lần, có khi họ cũng chỉ đến đấy để ăn uống chứ không vội vã như những đồng nghiệp ở đây.