Sunday, March 23, 2008

Lao động Việt Nam tại Malaysia (Phần 1)



Phần 1: Chặng đường xuống Taping






(Góc nhìn từ một bến chờ xe Búyt ở Taping. Ảnh: NTLam)


Sau một buổi chiều vật lộn với cái nắng ở lâu đài cổ Kellie's Castle, tôi và anh Quốc bắt đầu trở lại trung tâm Ipoh và đi tìm những sự thật về “thiên đường mù” tại Taping, nơi tập trung khá nhiều công nhân Việt Nam tại Malaysia.
Sang đây gần 2 năm nhưng tôi ít khi quan tâm đến những vấn đề lao động tại Malaysia. Tôi thi thoảng có gặp một vài đám lao động Việt Nam ở đây, nhưng không hỏi thăm gì cả. Tôi thấy họ tồn tại cũng như tôi ở đây, không kiếm được một nơi thích hợp ở Việt Nam nên đã phải sang Malaysia, học tập hay làm việc. Đôi khi tôi đọc báo, gia đỉnh cũng như bạn bè hay gửi cho tôi về những mẩu tin về người Việt Nam ở Malaysia, đa số những bài viết đó viết về lao động Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ là những rắc rối của họ. Tôi đọc lướt qua mỗi lần như vậy.
Bạn bè tôi ở Malaysia khá nhiều. Họ kể nhiều về lao động Việt Nam ở đây. Uống rượu thì những đám này mang men từ tận bên Việt Nam sang. Họ nhậu nhẹt rất nhiều, đa số là dân miền tây. Ăn bắt các loài động vật “lạ” ở Malaysia – những con vật mà nước đạo hồi không sát sinh (thậm chí khu tôi ở, quạ bay mỗi lần gần trăm con nhưng cũng không ai giết hay bắt chúng đi). Có một lần giáo viên của tôi kể, bà sống ở thành phố Melaka, trong vòng 1 tuần bà xuống bang Selangor dạy, bà trở về và rất ngạc nhiên khi thấy lũ chó hoang biến mất hết. Thì ra là đám lao động Việt Nam ở khu đó đã thịt hết! Tôi im lặng.
Chỉ có một lần duy nhất tôi nói chuyện với một người lao động Việt Nam tại Malaysia là ở trên máy bay khi về nước chơi. Do ngồi cùng nên chúng tôi trò truyện, hỏi han về khu ở của nhau một vài câu, tôi chỉ nhớ câu cuối anh nói “khổ lắm, anh làm cả năm chỉ đủ tiền vé bay về thôi…”
Tôi dần tò mò hơn về cuộc sống lao động Việt Nam tại Malaysia khi mà gần đây có khá nhiều tin đưa về công nhân Việt Nam tại Malaysia. Nhưng tất cả chỉ là chung chung và mơ hồ. Nó kích thích sự tò mò, mạo hiểm của những người trẻ tuổi như tôi. Tôi quyết định đi chuyến đi này để tìm hiểu thêm về điều đó.
Từ Ipoh, chuyến xe búyt cuối cùng về Taping đã hết,hai thằng đành vẫy Taxi. 2 người lái xe từ chối, 1 người đòi giá quá cao. Đến người thứ 4, anh ta chấp nhận với giá là 80RM. Lên xe được 5 phút, người lái taxi quay sang hỏi chúng tôi có phải Việt Nam không? – tôi vui vẻ trả lời và hỏi lại, how do you know? (sao mày biết) – … im lặng, 10 phút sau, người lái xe đó bảo chúng tôi đưa trước 20RM để đổ xăng, tôi đưa 50RM. Tuy nhiên, cả dọc đường, chúng tôi không thấy người lái xe đó dừng lại để đổ xăng.
Chúng tôi dừng lại ở bến xe Taping lúc 11h đêm. Người lái taxi đó không biết địa hình ở Taping nên thả chúng tôi ở đấy. Chúng tôi vui vẻ chấp nhận và nhìn quanh khu phố này.
Đập vào mắt tôi đầu tiên là 3 người ăn xin nghèo, ngủ ở các ghế chờ ở bến xe, họ cũng không đoái hoài gì đến 2 thằng đang vật lộn với đống balô, một người lướt mắt nhanh qua chúng tôi, lại vội vã buộc băng kín chân.

(Bến xe Taping, ảnh chụp vào ngày cuối khi rơi Taping. Ảnh: NTLam)

Chỉ đi dạo quanh bến xe búyt 5 phút, chúng tôi đã nhìn thấy 3 chiếc xe Polis chạy ngang qua. Điều này khá lạ lẫm. Khu nơi tôi ở, họa chăng 1 tháng tôi mới thấy cảnh sát 1 lần, có khi họ cũng chỉ đến đấy để ăn uống chứ không vội vã như những đồng nghiệp ở đây.

No comments: